Vượn

Sách Đỏ Thế Giới: Tất cả các loài Vượn đều xếp vào đang bị đe dọa.

Vượn là một giống trong họ Hylobatidae

Trước đây, họ này có một chi, nhưng hiện nay được chia thành bốn chi và 18 loài.

Tìm hiểu về vượn

Vượn dường như ít nhận được sự quan tâm hơn các thành viên khác trong họ, nhưng điều đó không có nghĩa là vượn không đáng được bảo vệ. 

Là loài nhỏ nhất trong họ của chúng, vượn thường được gọi là 'vượn nhỏ hơn'. Chúng chỉ được tìm thấy ở khu vực Indo-Malayan, kéo dài từ Ấn Độ và Trung Quốc, xuống qua lục địa Đông Nam Á và vào Indonesia. Sống thành các nhóm gia đình nhỏ, gia đình vượn chủ yếu là một vợ một chồng. Cặp đôi thường sẽ ở bên nhau trọn đời, bảo vệ một khu rừng cung cấp mọi nhu cầu của chúng và nuôi dạy con non của chúng, với tối đa bốn con non cùng một lúc. 

Loài vượn có cánh tay dài và thân hình nhỏ gọn thích nghi hoàn hảo với cuộc sống trên cây, do đó chúng không cần phải xuống đất và thường sống một cuộc sống hoàn toàn trên cây. Vì vậy, chúng thích nghi tốt với cuộc sống trong tán cây, chúng có khả năng thực hiện các bước di chuyển giữa các cây với khoảng cách tới 12 mét và di chuyển liên tục với tốc độ lên đến 56 km / giờ.

 

Vượn giao tiếp với nhau bằng nhiều âm thanh khác nhau, nhưng được biết đến nhiều nhất với tiếng hót trứ danh của chúng; con đực và con cái hót cùng nhau trong một bản song ca đặc trưng theo loài. Chúng là loài sinh sản tương đối chậm chạp, chỉ sinh một con sau mỗi 3-4 năm và vượn con vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ trong khoảng 12 tháng. Khi được 2 tuổi, chúng bắt đầu học di chuyển tự lập. Một con vượn non có rất nhiều điều để học, và chúng ở lại với cha mẹ của chúng cho đến khoảng 5-6 tuổi, chúng đến độ trưởng thành hoàn toàn sau khoảng 8 năm. Vượn chủ yếu ăn trái cây và bổ sung chế độ ăn này bằng lá cây và côn trùng.

 

Hiện có 4 chi và 19 loài vượn được công bố. Ở Việt Nam, chúng ta có 6 trong số 7 loài thuộc chi Nomascus, hay còn gọi là giống vượn có mào. Các loài vượn mào có kích thước tương đương nhau, trung bình khoảng 60 cm đối với chiều dài thân đầu và nặng 7,5 kg. Chúng khác biệt với các nhóm vượn khác bởi mào lông rõ ràng trên đầu (thường được ví như phần vương miện) của con đực và cả màu sắc của chúng, với con đực có màu đen với má trắng hoặc cam còn các con cái có màu vàng. Tất cả các loài vượn mào khi sinh ra đều có màu vàng, và sau đó chúng thay đổi màu theo độ tuổi.

 

Xem sơ đồ bên dưới để biết sự thay đổi màu sắc và hành vi theo tuổi ở vượn có mào.

Màu sắc và hành vi thay đổi theo tuổi ở vượn mào.

Là loài chủ yếu sống trên cây, vượn sống hoàn toàn phụ thuộc vào các khu rừng nguyên sinh. Khi những khu rừng này bị chia cắt, quần thể vượn suy giảm do thiếu thức ăn, các cơ hội giao tiếp xã hội và đa dạng hóa nguồn gen. Ngoài ra, các khu rừng bị chia cắt giúp cho thợ săn tiếp cận chúng dễ dàng hơn, khiến các quần thể vượn suy giảm trước nạn săn bắn bất hợp pháp. Là loài ăn trái cây sống trên cây, những loài linh trưởng ngày càng trở nên quý hiếm này đóng vai trò quan trọng trong vai trò phân tán hạt giống trong các khu rừng. Sự suy giảm của chúng trong các khu rừng này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và khả năng tái sinh của các khu rừng.

 

Ngoài môi trường sống bị chia cắt, các loài vượn ở Việt Nam đang phải chịu áp lực săn bắt cực kỳ nặng nề từ những kẻ săn trộm, những người kiếm lời từ việc bán vượn để làm "thuốc", thực phẩm truyền thống và phổ biến hơn là buôn bán vật nuôi. 
 
Theo các tiêu chí của Sách Đỏ IUCN, tất cả các loài vượn đều được coi là bị đe dọa. Trong tất cả các loài vượn, vượn mào là loài bị đe dọa nhiều nhất với 5 trong số 7 loài được xếp vào danh sách Cực kỳ nguy cấp. 

Tìm hiểu các cá thể vượn
tại EPRC

Phía bắc
vượn má trắng

phía nam
vượn má trắng

Phía bắc
vượn má hung

phía nam
vượn má hung

(Visited 5.366 times, 4 visits today)
viVietnamese